Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

CHÚC MỪNG XUÂN MỚI NHÂM THÌN 2012

GIÁO XỨ NGỌC THẠNH
CHÚC MỪNG XUÂN MỚI NHÂM THÌN 2012







TỤC LỆ NGÀY TẾT VỚI NHÀ ĐẠO
Tết đối với người Việt Nam chúng ta là một ngày trọng đại. Từ ngàn xưa đã có những nét đẹp văn hoá ngày Tết mà cho đến nay vẫn tồn tại và cần được phát huy. Người Công giáo Việt Nam cũng tiếp nhận những phong tục tốt đẹp này theo tinh thần Thư Chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam là “Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn ta đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”.
Sau đây là ghi nhận một số những tục lệ tốt đẹp ngày Tết mà nhiều nơi đang áp dụng.
 
Tảo mộ
 
Người Việt Nam có tục lệ đi tảo mộ ngày cuối năm, cứ từ khoảng 23 tháng Chạp trở đi, người ta đến các nghĩa trang để sửa sang lại phần mộ ông bà tổ tiên, cha mẹ đã quá cố. Tục lệ này nói lên lòng tri ân, tưởng nhớ người đã khuất nhân dịp đón xuân mới. Người Công giáo cũng tiếp nhận điều tốt đẹp này, nên dịp cuối năm, các nghĩa trang giáo xứ luôn luôn có đông đảo giáo dân đến viếng, quét vôi, dọn cỏ, trồng hoa, thắp hương và hơn hết là dâng lời cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.
 
Lễ tất niên tạ ơn
 
Tại nhiều xứ, ngoài lễ tạ ơn chung của giáo xứ, các khu họ đều xin lễ tất niên vào tuần lễ giáp Tết. Tuỳ theo số khu họ trong một giáo xứ mà cha xứ sắp xếp để mỗi khu họ có được một thánh lễ riêng. Toàn thể giáo dân trong khu họ được mời tham dự với hương hoa, của lễ và những ý nguyện riêng mà tựu trung là tạ ơn, cầu nguyện cho những người mới qua đời trong năm, cầu xin cho một năm mới bình an. Sau thánh lễ, tuỳ theo điều kiện, bà con quây quần liên hoan để có dịp chia sẻ tâm tư, tình cảm vui buồn. Tạo tình đoàn kết yêu thương nhau trong tinh thần “Góp gạo nấu cơm chung” nhẹ nhàng nhưng đậm đà tình nghĩa.
 
Đón ông bà
 
Chiều 30 Tết, theo phong tục Việt Nam, mỗi gia đình thường dọn một mâm cỗ, thắp hương trên bàn thờ tổ tiên theo ý nghĩa đón ông bà về ăn Tết với con cháu. Tục lệ này cũng được đón nhận nơi đồng bào Công giáo. Nhiều giáo xứ, ngay từ sáng 30 đã mở cửa nhà hài cốt, nhà tưởng niệm... để giáo dân đến kính viếng, mời ông bà tổ tiên cùng chứng kiến những ngày Tết xum họp của con cháu. Ai ai cũng xin ông bà cầu bầu cùng Thiên Chúa chúc lành cho con cháu trong năm mới và còn hiệp ý xin lễ cầu nguyện cho các ngài (qua các thùng xin lễ).
 
Đón giao thừa
 
Đón giao thừa là một nét đẹp không thể thiếu của các gia đình Việt Nam dù ở thôn quê hay thành thị. Trước giờ giao thừa, mọi người dù ở đâu, làm gì cũng cố gắng trở về quây quần bên nhau để chờ đón giây phút linh thiêng. Với người Công giáo Việt Nam, từ sau Công đồng Vatican II, Giáo hội Việt Nam đã đề nghị các giáo xứ tổ chức thánh lễ tạ ơn cuối năm trước giờ giao thừa. Trong thánh lễ này cũng có dành thời gian để mục tử và đoàn chiên nhìn lại sinh hoạt mục vụ năm cũ, đề ra những chương trình cho năm mới. Phần cuối lễ thường là dành để cộng đoàn, cha xứ cùng chúc mừng năm mới với những tràng vỗ tay hoan hỉ. Thánh lễ thường kết thúc khoảng 23 giờ để mọi người trở về gia đình đón giao thừa.
 

Hái lộc
 
Khoảng hơn chục năm trở lại đây, theo tinh thần hội nhập văn hoá, hầu như tại các xứ đạo đều có tổ chức “hái lộc đầu xuân”. “Lộc” ở đây là các phong bao lì xì, trong có kèm một câu trích trong sách Tin Mừng, được treo trên các chậu cảnh hay những cành đào, cành mai đặt trên cung thánh. Sau lễ giao thừa, mọi người lần lượt lên “hái lộc Lời Chúa”. Mỗi câu Lời Chúa nhận được như là ý Chúa gửi đến mỗi người, mỗi gia đình. Hiện nay, với công nghệ in ấn hiện đại, mỗi gia đình thường được cha xứ và hội đồng giáo xứ gửi biếu một tờ lộc in lớn, còn hái lộc tại nhà thờ là lời Chúa gửi đến từng cá nhân người đón nhận.
 
Giờ kinh giao thừa
 
Sau thánh lễ tại nhà thờ, gần tới giờ giao thừa, cha mẹ con cái họp nhau đầy đủ trước bàn thờ nơi gian nhà chính; quần áo chỉnh tề, trang nghiêm, tâm hồn thanh thản, vui tươi sẵn sàng chào đón năm mới. Đúng giờ giao thừa, mỗi người cầm một thẻ nhang đã đốt sẵn, cùng nhau cử hành nghi lễ. Chương trình cơ bản là: lời nguyện mở đầu của cha hay mẹ; tuyên xưng đức tin; suy tôn Lời Chúa; các thành viên dâng lời nguyện tự phát; tôn kính tổ tiên qua nghi thức dâng hương bái tạ. Hát một bài tạ ơn.
Sau đó, con cái lần lượt đến chúc thọ ông bà, chúc tuổi cha mẹ. Các bậc bề trên nhắn nhủ, chúc lành cho các con cháu. Kết thúc là phần liên hoan đón mừng năm mới của gia đình.
Trên đây là một số ghi nhận của người viết qua các gia đình Công giáo ở nhiều nơi, thành phố, nông thôn đã thực hiện. Rất mong những phong tục tốt đẹp đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam được duy trì và phát huy vì “những gì tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu diệt nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, 17,1)

Minh Đỗ







LƯỢC SỬ GIÁO XỨ NGOC THẠNH - QUI NHƠN

LƯỢC SỬ GIÁO XỨ NGỌC THẠNH



1. GXNT có đặc điểm địa lý – Xã Hội rất đặc biệt. Nhà thờ xứ nằm cạnh QL1 gần cầu Diêu Trì, thuộc địa bàn KV9,P-TQD,tp QN. Đây là vùng bán thị bán quê,là ngã 3 giao thông đi các miền trong nước. Phía Bắc có ga Diêu Trì, phía Nam là KCN Phú Tài. Phía Đông có trường Cao đẳng; còn phía Tây là một dãy dài trung du sơn cước đến hết huyện miền núi Vân Canh.
2. GXNT ngày xưa gọi là Cây Da có nhà thờ từ nam 1747 với trên 100 tín hữu, nằm ở thôn NT, Xã Phước An, huyện Tuy phước. Cùng với Sông Cát là 2 giáo điểm thuộc Làng Sông-Tân Dinh
- Năm 1905  ĐC Grangeon Mẫn đã làm phép nhà thờ này.
- Đến năm 1927 , Cây Da được tách khỏi Tân Dinh thành địa sở Cây Da với Cha Simon Tôn làm Cha sở tiên khởi; lúc bấy giờ Địa sở Cây Da có 8 giáo họ : Cây Da, Sông cát,Thăng Bình, Đất Vỡ, Phú Trung, Tân Vinh, Đại Hội, Phú Tài.
      - Năm 1930 Cha Benêđictô Nguyễn Đình Hiến đổi tên Địa sở Cây Da thành NT
      - Thời Cha Phanxicô Nguyễn Quang Hiền (1941-1950 )đã lập thêm giáo họ Nam Thạnh do có nhóm giáo dân gốc Nam Bình đến sinh sống phía nam cầu Diêu Trì.
Phong trào truyền giáo mạnh dần qua các thời :
                + Cha Anrê Nguyễn Văn Tường ( 1950-1955 )
                + Cha Phêrô Nguyễn  Kỳ Hôi ( 1955-1957 )
                + Cha Matthêô Trịnh Hòa Đại ( 1955-1961 )
       - Năm 1960 giáo đân NT lên đến 3000 với ¾ là tân tòng.
       - Thời Cha Gioakim Đoàn Kim Hiền (1961-1964 ) Cha sở và giáo dân di cư về giáo họ Nam Thạnh. Lúc đầu Cha Hiền tạm sử dụng các cơ sở đơn sơ sẵn có của giáo họ Nam Thạnh làm nơi sinh hoạt phụng vụ củaGX. Sau đó Cha trưng đất xây nhà vuông và xây móng nhà thờ NT tại vị trí ngày nay.
          - Năm 1965 Cha Agustinô Nguyễn Thanh Long tiếp tục xây dựng nhà thờ mới.
         - Cha Agustinô Nguyễn Thanh Huệ (1965 – 1968) đã hoàn thành công trình nhà thờ Ngọc Thạnh. Cha Huệ cũng xây dựng 1 trường tiểu học tại đây.
    - Thời Cha Phêrô Nguyễn Quang Báu (1968 – 1971) mở rộng trường tiểu học, xin các nữ tu dòng MTGQN về giúp.
    - Đến thời Cha Simon Huỳnh Tấn Công (1971 – 1975) toàn giáo xứ có đến 17 giáo họ : NT( tức Nam Thạnh cũ) Cảnh An, Tân Lập, Quang Hiển, Tân Vinh, Tăng Phúc, Tăng Hòa, Thanh Long, Mỹ Lộc, Thanh Bình, Thanh Huy, Đại Hội, Sông Cát, An Thạnh, Nhơn Mỹ và Long Vân. Phú Tài được tách làm địa sở mới.
    - Những năm 1965 – 1966 NT có lúc cao điểm lên trên 5000 giáo dân, đa số là dân tị nạn chiến tranh. Đến năm 1975 GXNT còn 2306 giáo dân.
    - Thời Cha Luca Nguyễn Huy Kỳ (1975– 2004) với nhiều khó khăn do biến đổi chế độ chính trị, nhiều giáo họ ly tán. Cha đã cố gắng duy trì sinh hoạt mục vụ tại những nơi còn giáo dân và nhà thờ như Sông Cát, Nhơn Mỹ, Đại Hội, Vân Canh … Từ năm 1996 Cha bắt đầu việc tu sửa và xây dựng lại giáo xứ : nhà ở cho các nữ tu dòng MTGQN, tu sửa nhà thờ và xây dựng bờ tường khuôn viên nhà thờ, xây dựng nhà đa dụng sinh hoạt giáo xứ, tu sửa nhà thờ Sông Cát, Vân Canh …
    - Năm 2001 có Cha Gioakim Trần Minh Dũng về làm phó xứ. Năm 2003 Cha Antôn Pađôva Trần Liên Sơn thay Cha Dũng làm phó xứ.
    - Ngày 25/01/2004 Cha Sơn được bổ nhiệm làm Cha xứ NT đến nay. Năm 2008 có Cha Giuse Nguyễn Văn Thành về làm  phó xứ.
    - Cha Antôn Pađôva đã xây dựng nhiều công trình cho GXNT : làm mới cung thánh nhà thờ, xây mới phòng thánh, xây nhà giáo lý mới, dựng hang đá Đức Mẹ, dựng đài Thánh Giuse, tiếp tục tu sửa nhà thờ Sông Cát, Nhơn Mỹ,  xây nhà xứ Vân Canh. Cha đã củng cố và thành lập các hội đoàn : Ban giáo lý, hội mẹ, hội gia trưởng, hội trợ táng, các ban mục vụ …
3. Hiện nay, giáo họ chính Ngọc Thạnh được Cha Sở Antôn Pađôva chia làm 4 giáo khu với 342 gia đình và 1457 giáo dân. 2 giáo khu đông nhất là Mân Côi và Thăm Viếng bao bọc xung quanh nhà thờ, bên kia sông Hà Thanh là giáo khu Phaolô II của vùng Vân Hội Diêu Trì, bên này sông là giáo khu Phaolô I thuộc ngã 3 và KCN Phú Tài.
    - Nhìn về hướng đông có giáo họ lâu đời Sông Cát được hình thành từ năm 1817. Giáo họ Sông Cát là nơi có 5 trong 7 linh mục xuất thân từ GXNT. Hiện nay Sông Cát có 58 gia đình với 222 giáo dân. Bên cạnh là các giáo họ :
        Luật Lễ    7 gia đình    35 giáo dân
        An Thạnh    12 gia đình    45 giáo dân
        Nhơn Mỹ    4 gia đình    20 giáo dân
        Long Vân    17 gia đình    59 giáo dân
    - Đi dần về hướng Tây là các giáo họ :
        Đại Hội    23 gia đình    117 gd
        Thăng Bình    13 gđ        41 gd
        Tân Lập    47 gđ        208 gd
        Tân Vinh    41 gđ        156 gd
        Vân Canh    45 gđ        148 gd
        Dân tộc thiểu số 8 gđ    30 gd
    Tổng cộng toàn giáo xứ có 617 gđ với 2538 giáo dân.
    Về cơ sở ngoài nhà thờ Ngọc Thạnh có nhà thờ Sông Cát, Vân Canh tạm dùng, nhà thờ Nhơn Mỹ đã xuống cấp, Đại Hội chỉ còn nền, còn các giáo họ khác thì không còn hoặc không có nhà nguyện gì cả.
4. Sinh hoạt các hội đoàn và giáo lý hầu như chỉ có ở giáo họ chính, phong trào có lúc lên lúc xuống nhưng nhìn chung vẫn duy trì được tổ chức với tinh thần yêu thương và phục vụ. Cha sở, Cha phó, quí thầy, quí sơ giúp xứ, ban chức việc và các hội đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc cham sóc mục vụ các giáo họ vùng sâu vùng xa nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trắc trở khách quan cũng như chủ quan.
Nói chung nơi nào có linh mục hiện diện thường xuyên thì giáo dân sống đạo tương đối khá. Giáo dân các Giáo họ xa chỉ dự lễ ngày Chúa nhật. Để giúp các Giáo họ thăng tiến, cần được tiếp tục đào tạo giáo lý viên và tập cho các Giáo họ xa biết tổ chức phụng vụ Lời Chúa trong nhà thờ và gia đình, năng thăm viếng các gia đình trong các Giáo họ để khuyến khích, để hiểu rõ tình hình và nguyện vọng của giáo dân và giúp đỡ họ khi cần, để  “ Các chiên Ta biết Ta và Ta biết các chiên Ta ”.